Bất cập công nghiệp tái chế

Các phế liệu, chất thải trong sản xuất, sinh hoạt được tái chế, tái sử dụng có thể tạo ra hơn 1.000 tỷ USD/năm vào năm 2025. Mỗi năm các DN Việt Nam sẽ lãng phí hàng tỷ đồng nếu chưa biết tận dụng nguồn lợi khổng lồ từ chất thải. Trong khi đó, hàng năm Việt Nam lại nhập khẩu lượng phế liệu rất lớn.

Nhập khẩu phế liệu tràn lan

Theo PGS.TS Huỳnh Trung Hải (Đại học Bách khoa Hà Nội), khoảng 85% trong số 31.600 tấn chất thải rắn sinh hoạt phát sinh mỗi ngày ở khu vực đô thị được thu gom. Trong khi ở nông thôn 14.200 tấn nhưng chỉ 40-50% được thu gom. Như vậy trung bình chỉ có khoảng 60% lượng chất thải rắn sinh hoạt được thu gom trên cả nước. Đáng chú ý, cả nước hiện chỉ có 35 dây chuyền xử lý chất thải sinh hoạt đô thị, với tổng công suất 6.500 tấn/ngày. Quy mô của các cơ sở tái chế còn nhỏ nên hiệu quả tái chế bị hạn chế. Đây là sự lãng phí lớn, bởi theo số liệu thống kê trong cả nước có khoảng 15-20% tổng lượng chất thải rắn có thể được tái sử dụng.

Tại Nhật Bản, việc tái chế và tái sử dụng phế liệu luôn được khuyến khích bằng các sắc thuế, các chính sách ưu đãi về tài chính, đã giúp nâng cao hiệu quả sử dụng những sản phẩm tái chế bằng cách định rõ trách nhiệm của các bên liên quan. Theo luật này, người dân phải phân chia rác theo từng loại. Các cơ quan môi trường sẽ đến thu gom rác theo từng loại và chuyển tới các nhà máy xử lý rác.

Ông David Dương, Tổng giám đốc Công ty Xử lý chất thải rắn Việt Nam

Điều nghịch lý là, trong khi chưa tận dụng hết từ chất thải sẵn có trong nước, nhiều ngành công nghiệp đang phải nhập khẩu nguồn phế liệu. Theo Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam, gần 70% sản lượng giấy hiện nay được sản xuất từ nguyên liệu tái chế. Nhu cầu giấy trong nước đạt gần 3 triệu tấn/năm, nhưng chỉ khoảng 60% sản xuất trong nước. Với ngành công nghiệp nhựa, hàng năm cần 2-2,5 triệu tấn nguyên liệu nhựa nhập khẩu, trong đó phế liệu nhựa chiếm trên 80%. Tương tự, thép phế liệu trong nước đến nay chỉ cung cấp được trung bình 30% cho yêu cầu tái chế, còn lại phải nhập khẩu từ bên ngoài.

Thực trạng trên cho thấy ngành công nghiệp tái chế Việt Nam đang có tiềm năng rất lớn. Vì thế, trong chiến lược về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đảm bảo đến năm 2020 khoảng 70% lượng rác thải nông thôn, 80% rác thải sinh hoạt, 90% rác thải công nghiệp không nguy hại và 100% rác thải nguy hại phải được thu gom, xử lý và tái chế. Mục tiêu đến năm 2025, 100% các đô thị có công trình tái chế chất thải rắn thực hiện phân loại tại hộ gia đình, 100% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị và tại các làng nghề được thu gom và xử lý và tái chế. nhưng đáng tiếc nhiều thiết bị, máy móc, dây chuyền tái chế hiện còn lạc hậu, dẫn đến hiệu quả không cao. Đặc biệt, hoạt động tái chế lại không có sự tham gia của ngành công nghiệp phụ trợ. Việc tái chế rác sinh hoạt, công nghiệp, y tế… từ các nguồn trên cả nước hiện đang được thực hiện bởi những cơ sở nhỏ lẻ, phân tán, công nghệ xử lý lạc hậu; hầu hết không có hệ thống xử lý nước thải, xử lý khí thải. Các cơ sở này chủ yếu nằm xen lẫn trong khu dân cư, gây ô nhiễm không khí, đất và nguồn nước trong môi trường.

cong nghiep tai che

Giao nộp chất thải nguy hại được nhận quà tại Ngày hội tái chế chất thải TPHCM hàng năm.

Bỏ ngỏ tiềm năng sinh lời

Thực tế cho thấy đã có rất nhiều sáng kiến và công nghệ giúp chuyển đổi vật phẩm vốn được coi là chất thải thành các sản phẩm và dịch vụ mới. Ông Sasama Tomoyuki, Tổng giám đốc Công ty Dow tại Việt Nam, cho biết, với chương trình thí điểm Túi năng lượng ở TP Citrus Heights, bang California (Hoa Kỳ), Dow đã giúp chuyển đổi 2,7 tấn nhựa thải vốn chưa từng được tái chế trước đây như túi nước trái cây, giấy gói kẹo và đồ chứa thức ăn bằng nhựa thành 2.327 lít nhiêu liệu.

Tại Việt Nam, một số DN đã bắt đầu quan tâm tới việc ứng dụng công nghệ và sử dụng nguyên liệu tái chế nhằm tiết giảm chi phí sản xuất và giảm nguy cơ ô nhiễm. Là DN đang rất thành công với việc phát triển công nghệ khí sinh học, ông Ngô Duy Đông, Tổng giám đốc Công ty Phát triển công nghệ khí sinh học môi trường xanh, đã không ngại chia sẻ kinh nghiệm chuyển đổi từ sản xuất bể biogas bằng nhựa composite sang sử dụng nhựa tái sinh. Ưu điểm của bể biogas sử dụng nguyên liệu nhựa tái sinh là sẵn có, rẻ tiền, quy trình sản xuất không gây ô nhiễm, dễ lắp đặt, vận chuyển và giá thành phù hợp với mức đầu tư của người dân... Sản phẩm có giá thành chỉ bằng 60% bể composite, và thấp hơn 10% so với bể xây bằng gạch. Tuy nhiên vấn đề ở đây là cơ chế để khuyến khích các DN tham gia đầu tư lĩnh vực này. Đại diện Công ty Nhiệt điện Mông Dương đề xuất Chính phủ và các bộ, ngành liên quan cần có định hướng, quy định rõ ràng về “chất thải” để tạo điều kiện cho DN đầu tư công nghệ tái chế. Hiện các phế liệu như xỉ, thạch cao đang được công ty nghiên cứu để làm phụ gia sản xuất xi măng, gạch không nung… “Tuy nhiên, DN chỉ có giấy phép kinh doanh về điện, vậy cơ chế nào để chúng tôi kinh doanh vật liệu xây dựng tái chế” - đại diện Công ty Mông Dương nói.

Trăn trở của đại diện Công ty Mông Dương cũng là vấn đề được nhiều DN quan tâm và mong chờ có chủ trương phù hợp trong thời gian tới.

Công ty thu mua phế liệu Bảo Phát theo nguồn SGDT

Nhận xét - Bình luận :: Bất cập công nghiệp tái chế

Có thể bạn quan tâm